Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

MỘT CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG


Một câu chuyện cảm động 


Nhấp đúp vào đây để xem thêm thông tin  
 
Anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt, ông lại bán xe rồi hay sao mà lại đi tàu lên đây.



Anh cúi đầu trả lời lý nhí trong sự hổ thẹn, ừ, bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm. Chị sầm mặt xuống, ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không thể ngóc đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh, nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên.


Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối, con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ, em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian, để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về.


Chị thở dài, ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau. Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.


Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây xin tị nạn. Chị tốt nghiệp Đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.


Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.


Vừa sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt. Đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán. Chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn


"Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng...", đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.


Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà.

Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.

Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.

Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.


Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.


Thành phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.


Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.


Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Đi học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.
Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,.. đàn..đàn...klavia....con muốn... Anh thở dài và hát cho nó nghe.
Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng.
Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm
Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.
Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: "...Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo...sống với cha êm như làn mây trắng...nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con....với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không...".
Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó hỏi, con sao vậy hả con yêu của mẹ. Nó ngước nhìn mẹ nó rất trìu mến rồi chìa cho mẹ nó một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.
Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa 4 ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, 4 tháng rồi hả. Nó gật đầu.
Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.
Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -" Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.."
Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg....
Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị.
Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát "Người Cha Yêu Dấu" bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
06.12.11

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Nỗi sợ của loài người

Bài văn lạ về nỗi sợ của loài người 

 

 

Cập nhật lúc 02/12/2012 01:25:00 AM (GMT+7)
- Diễn viên Lương Mạnh Hải lại nói: "Tôi chỉ sợ luật pháp"... Phải chăng bên cạnh sự can đảm thì cái sợ ở một khía cạnh nào đó cũng thật cần thiết?

Ảnh minh họa




Đề bài:

Trong bài phỏng vấn diễn viên Lương Mạnh Hải trên trang tạp chí điện tử Đẹponline ngày 14.9.2012 có đoạn đối thoại sau:


- Còn anh, anh sợ “thằng”nào?


- Tôi chỉ sợ luật pháp.


- Ngoan hiền thế kia sao phải sợ luật pháp?


- Đấy, chính vì sợ luật pháp nên mới ngoan hiền.


Lấy “Sợ” làm đề tài, anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình
.

Bài làm:


Napoleon từng nói “Kẻ nào sợ bị khuất phục, kẻ đó sẽ thất bại.” Bởi thế nên trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được khích lệ động viên bằng những câu nói “Đừng sợ thất bại”, “Chớ sợ khó khăn”… Có lẽ trong suy nghĩ của nhiều người, cái sợ dường như thật vô ích, cái sợ trở thành một thứ ngăn trở con người tiến lên, thành công. Vậy mà trả lời phỏng vấn một tờ báo, khi được hỏi sợ điều gì, diễn viên Lương Mạnh Hải lại nói :”Tôi chỉ sợ luật pháp.” “- Ngoan hiền thế kia sao phải sợ luật pháp?” “- Chính vì sợ luật pháp nên mới ngoan hiền.” Phải chăng bên cạnh sự can đảm thì cái sợ ở một khía cạnh nào đó cũng thật cần thiết?


Sợ là cảm xúc lo lắng, bất an khi đối diện với một nỗi nguy hiểm hoặc một mối đe dọa nào đó có thể xảy đến với mình. Sợ là một biểu hiện tâm lý mà bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải trong cuộc sống, nó luôn hiện diện thật phong phú. Một đứa bé có thể sợ không có mẹ ở bên, một học sinh sợ bị điểm kém, một cô gái nhút nhát có thể sợ khi đối diện với đám đông, một người bán rong sợ trời mưa gánh hàng bị ế, một người sắp rời khỏi cuộc đời sợ cái chết,…. Theo các nhà tâm lý học thì sợ là một cảm xúc thuộc về bẩm sinh, bản năng của mỗi con người, nó là một điều rất đỗi bình thường.


Đa phần ta vẫn thường cho rằng sợ hãi là một cảm xúc không tốt, nó khiến con người trở nên nhụt chí, trở nên hèn nhát và cản trở thành công. Kinh Phật cũng đề cao cái “vô úy”, “vô sở úy” (Tức là không sợ hãi) mà răn rằng: “Đừng nên để lòng vào chỗ sợ hãi lắm mới xa lìa trong trường chiêm bao tráo trác”.


Nếu sợ thất bại mà không dám đối diện với khó khăn, không dám thử, không dám khám phá những cái mới, cái sợ đó sẽ khiến con người trở nên nhỏ bé và giới hạn khả năng của chính mình. Turgot nói: “Có những người vì sợ gãy chân mà không dám bước đi. Nhưng không dám bước đi thì khác nào chân đã gãy?” Quả thực, với cuộc sống phong phú này thì một lần dám đối diện với thử thách, một lần dám “liều” thì con người sẽ khám phá và mở rộng hơn rất nhiều cuộc sống vốn ngắn ngủi, đó là khi thành công đến, là khi tìm thấy và khẳng định được chính mình.




Nếu sợ cường quyền mà khuất phục, cúi đầu để được sống, để đạt được mục đích đê hèn thì nỗi sợ hãi đó cũng thật đáng khinh. Sợ cấp trên nên nịnh nọt để được thăng tiến, để không bị trù dập, sợ mất cơ hội mà tranh giành, đấu đá dẫm đạp nên mọi giá trị. Những nỗi sợ đó khiến con người vốn nhỏ bé lại càng bị kéo xuống thấp hơn.


Nhưng không phải vì thế mà cứ sống một cách ngang tàng, không biết sợ bởi lẽ có những nỗi sợ lại rất cần thiết trong cuộc sống. Nếu biết tiết chế nỗi sợ hãi và biết sợ hãi đúng lúc, đó có khi lại là một cách hay để sống tốt cuộc sống của mình.


Bởi lẽ đối diện với bất kỳ một vấn đề nào trong cuộc sống, cái sợ sẽ khiến con người trở nên cẩn trọng hơn. Cuộc sống luôn ẩn chứa những khó lường, những thay đổi mà con người không thể biết hết, sợ những hiểm nguy đó cũng giống như một người đi trong đêm sợ bóng tối vậy. Để từ nỗi sợ đó, ta sẽ tính toán cẩn thận và có những bước đi đúng đắn. Sợ thất bại, ta sẽ cẩn trọng để không phải mắc sai lầm, để đi đến thành công nhanh chóng hơn. Nếu không biết sợ, ai cũng có thể nhắm mắt làm liều, làm bừa thì hậu quả sẽ khôn cùng. Vụ sập cầu Cần Thơ năm 2008 chẳng phải cũng là biểu hiện của sự thiếu cẩn trọng mà căn nguyên của nó cũng chỉ vì không biết sợ hay sao?


Hơn nữa, đôi khi cái sợ lại là biểu hiện trái chiều của thái độ trân trọng với cuộc đời. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết:
“Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung.” Một ví dụ giản dị nhất của nỗi sợ, đó là sợ cái chết. Sợ cái chết không chỉ là một nỗi sợ bản năng của con người mà với những người biết trân trọng cuộc sống, sợ cái chết vì còn nhiều điều chưa hoàn thành, vì còn nhiều dự định còn ấp ủ. Không yêu đời sao phải ngại chết, không trân trọng tình người sao phải sợ mất tình?

Ta vẫn thường nhìn nhận sự sợ hãi đồng nghĩa với hèn nhát, thiếu can đảm, từ đó mà xem nhẹ, coi khinh cái sợ. Nhưng đôi khi, có những nỗi sợ hãi lại tôn con người lên, khẳng định phẩm giá của con người, như nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao - một con người không biết sợ bất cứ thế lực nào nhưng lại có một nỗi sợ thật cao quý “sợ phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ.” Chính cái sợ đó đã tôn vinh Huấn Cao lên thêm một bậc của kẻ anh hùng.


Trở lại với cuộc đối thoại ngắn của diễn viên Lương Mạnh Hải để thấy được một trong những điều con người nên sợ hãi, đó là sợ pháp luật. Người ta thường nói, nếu không làm điều gian tà, độc ác, sao phải sợ sự trừng trị của pháp luật? Nhưng Lương Mạnh Hải lại cho rằng người thiện lương mới là người sợ pháp luật. Bởi lẽ cái sợ sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật với những kẻ gian tà thực chất chỉ là cái sợ bề ngoài, cái sợ thuộc về bản năng khi phải đón nhận một bản án không tốt dành cho mình. Còn cái sợ pháp luật của người lương thiện đó không chỉ là cái sợ để hướng con người biết giới hạn, biết hành xử đúng mực mà đó là cái sợ khi phải đối diện với tòa án lương tâm trong chính mỗi con người.


Xã hội sẽ ra sao nếu như ai ai cũng không biết sợ pháp luật? Đó là khi những quy tắc, chuẩn mực, giới hạn bị phá vỡ, khi mọi quyền của con người bị xâm phạm một cách ngang nhiên. Đó là khi ai cũng có thể lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để gây tội ác, như những dư chấn sau vụ án Lê Văn Luyện, đó là tội ác của Lê Anh Tuấn, không biết sợ pháp luật vì biết mình chưa đủ độ tuổi luật định để nhận bản án thích đáng của pháp luật đối với tội ác dã man của mình.


Bởi thế mà cái sợ không phải lúc nào cũng là vô ích, vô nghĩa. Sợ để biết sống đúng mực, sợ để biết trân trọng những gì đáng quý trong cuộc đời, sợ để biết cẩn trọng hơn. Đó là cái sợ nên có trong cuộc đời.











Cuối cùng, thực chất, sợ và không sợ cũng chỉ tồn tại trong cùng một mối quan hệ mà thôi, vì sợ cái này mà không sợ cái kia. Nó giống như sự can đảm của người lính, không sợ cái chết bởi sợ sống một cuộc sống còn tồi tệ hơn cái chết, đó là cuộc sống của một dân tộc đã chết. Nó cũng giống như nhà bác học Ga-li-lê không sợ giáo hội Thiên Chúa giáo thế kỉ XVIII vì sợ chân lý bị đánh cắp khi bảo vệ quan điểm Trái Đất quay quanh mặt trời của mình. Bởi vậy sợ và không sợ, cái nào nên, cái nào không nên thực chất không có ranh giới rõ rãng, ranh giới đó do chính mỗi người tự đặt ra khi đối diện với mọi vấn đề trong cuộc sống. Để làm sao, dù không sợ hay sợ thì ta vẫn luôn hành xử một cách đúng mực.


Còn tôi, tôi sợ một ngày tôi đánh mất chính mình…


Copy tặng bà con anh chị em bài thơ của độc giả comment bên Blog của Minh Hằng:
****************************************************
CP cầm cố đất nước.
QH không dám cầm còi
Tham nhũng ung dung cầm lái.
Gặp tàu khựa quỳ gối cầm bô.
Lãnh đạo khấu đầu cầm bị.
Phong bì thoải mái cầm cương.
Yêu nước thì bị cầm tù.
Tư pháp cầm đèn chạy án.
Bác sĩ vô cảm cầm tiền.
Chất xám tất bật cầm máu.
Tại chức nhí nhố cầm bằng.
Đầu tư tuột dốc cầm chắc.
Cán bộ làm việc cầm chừng.
Lãnh đạo níu ghế cầm đô.
Dân nghèo lũ lượt cầm đồ.
Nông dân chạy gạo cầm hơi.
Ngư dân cầm tàu chuộc mạng.
Tiểu thương cầm vợ đợ con.
Trí thức rán cầm nước mắt.
Trung ương vẫn ngỡ cầm đầu.
Trên dưới tranh quyền cầm trịch.
Nhìn giặc cướp đảo không dám cầm quân.
Quân đội lắm phen cầm cập

sắp đến ngày mọi người cầm gạch/cầm đá/cầm cây/cầm gậy,..

đập cho bọn cầm thú không để chúng cầm ...


Hớt tóc Sài thành chiều khách từ A tới Z

Các cô thợ chẳng cầm kéo hoặc tông đơ, chỉ thấy bóp vai, pha nước cam cho khách uống rồi dìu vào phòng. Lát sau, ông khách trở ra mặt hớn hở, trong khi cô thợ đỏm dáng đi phía sau khi xốc lại váy áo, lúc chỉnh sửa nịt ngực...
> Cà phê khoe ngực, khoe đùi ở Sài Gòn

Ở thành phố được gắn liền với biệt danh "Hòn ngọc Viễn Đông", dịch vụ "em út" nhiều không đếm xuể. Chỉ cần lượn vài vòng thành phố sẽ thấy khắp nơi, từ quán nhậu, quán cà phê đến quán bar, vũ trường, tiệm karaoke trương bảng tuyển nữ tiếp viên rầm rộ với yêu cầu tuyển dụng giản đơn "trẻ, đẹp, yêu nghề, dễ bảo".
Hớt tóc - loại hình dịch vụ tưởng chừng chẳng liên quan gì đến cái vụ mỹ nữ với hồng nhan nhưng ở đất Sài thành, dân kinh doanh tông đơ kháo nhau cái nghề gọt đầu cho mày râu mà thiếu bóng hồng coi như... trớt quớt!
Một bộ phận không nhỏ đấng tu mi nam tử ở "thành phố hoa lệ" này có cái thú vào tiệm hớt tóc phải có "mấy em" mới chịu. Tay nghề của các em ra sao họ chẳng quan tâm, chỉ cần mấy cô thợ nữ đỏm dáng, mặc sexy, chiều khách thì các ông khoái. Vì khoái mà có ông vào tiệm hớt tóc chỉ để được gội đầu, lấy ráy tai, hoặc nhổ tóc bạc và sau đó thì… "tiến xa". Và cũng vì khoái mà có ông đầu trụi lủi nhưng cứ dăm bảy ngày lại lén vợ chui vào tiệm cho mấy em... hớt tóc.
Ông Chín Thẩu (phường Phước Long B, quận 9) tuổi ngoài 50, tóc có mấy sợi loe hoe nhưng rất hay vào các tiệm tông đơ để được các cô thợ nữ... hớt tóc. Nói là thợ cho oai chứ kỳ thực những tiệm "hớt tóc dzui dzẻ" mà ông Thẩu chui đầu vào các cô thợ chẳng biết ất giáp cái việc ủi tông đơ hay xỉa kéo.
"Nói thiệt là các ẻm nó có hớt nhưng là hớt bằng mồm. Hớt vậy đã lắm, nhột lắm, đảm bảo hớt một lần là ghiền, là muốn hớt hoài, hớt mãi", ông Thẩu tâm tình khá sỗ sàng rồi huỵch toẹt: "Cái này thiên hạ hay nói là hớt tóc trá hình. Nói vậy nghe nó tệ nạn quá, gọi là hớt tóc dzui dzẻ thì đúng hơn bởi vô trỏng rồi cả khách và các em đều dzui. Khách dzui vì được các em trổ tài điệu nghệ phê thấu trời. Còn các em dzui vì có được thu nhập, có khi nhờ làm khách hài lòng mà được boa đậm".
Các chân dài trong một quán hớt tóc thanh nữ ở TP HCM.
Các chân dài trong một quán hớt tóc thanh nữ ở TP HCM.
Vì điểm tới lui là những tiệm hớt tóc nhạy cảm nên để tránh sự lồng lộn của "sư tử Hà Đông", ông Thẩu cùng ông bạn Sáu Bảnh (phường Long Bình, quận 9) thường đi "tác nghiệp" ngoài quận. Mỗi khi ngứa đầu ngứa tai muốn "đi gội lấy ráy", hai ông phải dạt sang các quận khác cho chắc ăn. "Lẩn quẩn trong quận dễ gặp người thân quen, sợ đến tai mấy bả khó tránh bi kịch bị xé xác lắm", ông Bảnh cho biết.
Rồi ông Bảnh chia sẻ: "Nói thiệt bà xã tôi nhìn oải lắm, lúc nào cũng nhàu nh, nhăn nhó, da thịt thì nhão nhoẹt nên chán, hay đi chơi bời. Tôi chỉ thích vào tiệm hớt tóc bởi so với các tiệm massage, quán karaoke, quán nhậu thanh nữ... thì vào tiệm hớt tóc an toàn, thoải mái, ít tốn kém hơn. Lúc nào căng thẳng chỉ cần lủi vào cho các em nó 'mần' là phê".
Nay hớt tóc, mai cạo mặt, ngày kia lấy ráy tay, ngày kế tiếp gội đầu... nên bộ đôi "cao thủ tông đơ" Chín Thẩu và Sáu Bảnh rành rẽ rất nhiều "con đường sung sướng" tập trung đông các tiệm hớt tóc nhạy cảm. Sau khi liệt kê hàng loạt địa điểm như đường Điện Biên Phủ, Phan Đăng Lưu (quận Bình Thạnh), đường Lê Hồng Phong, Sư Vạn Hạnh (quận 10)..., ông Bảnh bật mí, dạo gần đây ông và chiến hữu thường tới lui mấy quán ở quận Tân Bình, đặc biệt là đường Bạch Đằng gần khu sân bay: "Ở đó ok lắm, các em nó rất yêu nghề, khách muốn hớt kiểu gì cũng được chiều tới bến".
Ở đường Bạch Đằng, trên đoạn phố chỉ hơn 100 m nhưng có đến hơn chục điểm hớt tóc thanh nữ có các cô thợ ăn vận mát mẻ nổi tiếng "quậy tới bến" với màn hớt tóc bằng lưỡi, bằng môi…, bằng các động tác mơn trớn quái dị. Trong lúc cô thợ đỏm dáng ăn vận theo môtíp truyền thống "trống trên hở dưới" bận "hớt tóc" thì ông khách nằm dài trên ghế câu cổ hôn hít, ông thì táy máy "khám điền thổ" một cách thản nhiên. Có ông chẳng biết hớt tóc kiểu gì mà khi bước ra từ căn phòng đèn màu mập mờ thì mặt mũi bơ phờ. Hỏi ra mới biết vào vòng trong, tốc độ "hớt tóc" của cả khách lẫn thợ rất ác liệt nên khách mới… "mệt" như vậy.
Tại tiệm T.Đ, sau khi đón khách bằng động tác uốn éo lả lơi, nghe khách đòi hớt tóc, cô thợ phốp pháp õng a õng ẹo bảo "anh đi nhầm chỗ rồi, em hổng có biết mần cái món cắt gọt đâu, sở trường của em là... xoa với bóp thôi".
Trong khi đó, anh Trung (Việt kiều Canada) cho biết, được một số bạn bè từng về Việt Nam vui chơi mách bảo ở quận 1 có điểm hớt tóc đúng nghĩa "thiên đường" nên khi vừa tới sân bay Tân Sơn Nhất, anh lập tức "hú" taxi đưa đến tận nơi để được mục kích sở thị. "Đúng như đoạn clip mà một anh bạn chuyển cho tôi xem trước đó, tiệm này rặt gái với gái, cô nào cũng xinh tươi, ăn vận mát mẻ và phục vụ khách chu đáo tận tình". Anh bật mí: "Vào đây bạn đừng mong sẽ trở ra với mái đầu được cắt hớt như ý nhờ bàn tay khéo léo của cô thợ nào đó. Mấy cổ chỉ giỏi phục vụ khách các khoản khác thôi. Thông thường lúc đầu là màn bóp vai, vuốt keo tóc và sau đó muốn gì là việc của bạn".
Sợ rằng diễn tả của mình không đủ ý, anh Trung cho xem đường link liên quan đến tiệm hớt tóc được cánh Việt kiều trẻ hay các thiếu gia đang sinh sống tại Sài Gòn thường xuyên tới lui. Clip dài hơn 10 phút với em út lố nhố, nhún nhảy tươi vui. Khách vừa bước vào lập tức được dàn mỹ nữ ùa tới cúi chào lịch sự. Từ đầu đến cuối clip, chẳng thấy các cô thợ kia cầm kéo hoặc tông đơ, chỉ thấy bóp vai, pha nước cam cho khách uống và dìu khách đi vào phòng trong. Lát sau, ông khách trở ra mặt hớn hở, trong khi cô thợ đỏm dáng đi phía sau khi xốc lại váy áo, lúc chỉnh sửa nịt ngực...
Một lần vào tiệm như vậy, anh Trung bảo, phải "tiêu" ít nhất 1 vé (100 USD), có khi còn hơn, trong khi ở Canada, kiếm đỏ mắt cũng chẳng thể có kiểu hớt tóc "ngộ đời" như vầy. "Khi đã có trải nghiệm, tôi mới biết vì sao tiệm hớt tóc ấy được cánh Việt kiều gọi là "thiên đường". Tôi cũng hiểu vì sao khách vào đấy được chủ kinh doanh cho quay phim thoải mái. Bởi sau khi đốt khoản tiền khá lớn, khách còn là kênh quảng cáo miễn phí cho chủ tiệm khi phát tán đoạn phim cho bạn bè. Cứ thế người này truyền tai người kia, Việt kiều trẻ về nước là muốn đến thiên đường một lần cho biết. Và các thiếu gia lắm tiền ở Sài Gòn xem việc vào đấy tiêu tiền, giựt le với các cô thợ là đẳng cấp.
Lãnh đạo Công an phường 2 (quận Tân Bình) cho rằng, muốn dẹp thì phải có chứng cứ, muốn có chứng cứ thì phải bắt quả tang. Các chị em quá quen mặt công an địa phương nên chuyện bắt tận tay day tận mặt chẳng phải dễ. Dù vậy, sau khi nhận phản ánh, lãnh đạo Công an phường 2 đã lập biên bản, xử lý đóng cửa nhiều điểm... và hiện nay, nạn hớt tóc nhạy cảm không còn lộng hành như trước bởi đã có cả chục điểm bị triệt dẹp.
Theo An ninh Thế giớ

Khởi tố Phó phòng PC 45 công an Hải Phòng

Vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn:

Khởi tố Phó phòng PC 45 công an Hải Phòng 

 

 

Cập nhật lúc 06/12/2012 11:32:06 PM (GMT+7)
Liên quan đến việc tổ chức cho bị can Dương Chí Dũng - nguyên cục trưởng Cục Hàng hải VN bỏ trốn, cơ quan ANĐT Bộ Công an vừa ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam với Vũ Tiến Sơn (SN 1966) - Phó phòng PC 45 Công an TP Hải Phòng.

Bị can Dương Chí Dũng - nguyên cục trưởng Cục Hàng hải VN

Tin từ Công an TP Hải Phòng vừa cho biết, sáng nay 6/12, Cơ quan ANĐT Bộ Công an đã làm việc với Công an TP Hải Phòng, công bố quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Vũ Tiến Sơn (SN 1966) - Phó phòng CSĐT Tội phạm về TTXH (PC 45) Công an TP Hải Phòng về tội “Tổ chức người trốn đi nước ngoài” theo điều 275 Bộ luật hình sự.

Trước đó, liên quan đến hành vi tiếp tay cho bị can Dương Chí Dũng - Nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam bỏ trốn, đối tượng Đồng Xuân Phong (nguyên cán bộ Cục Hải quan Hải Phòng) vốn đang mang lệnh truy nã của Công an TPHCM về tội buôn lậu đã được sự tiếp tay của đối tượng Vũ Văn Sáu - nguyên Trưởng công an xã An Thọ - An Lão (Hải Phòng) làm giả chứng minh thư và sổ hộ khẩu về nước giúp Dương Chí Dũng bỏ trốn.


Vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn: Phó phòng PC 45 Công an TP Hải Phòng bị khởi tố

Liên quan đến việc tiếp tay cho bị can Dương Chí Dũng bỏ trốn, Cơ quan ANĐT Bộ Công an đã khởi tố bị can với Vũ Tiến Sơn - Phó phòng CSĐT Tội phạm về TTXH (PC 45) Công an TP Hải Phòng. (Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Công an)

Hành vi của đối tượng Vũ Văn Sáu bị lật tẩy khi y lợi dụng quyển hộ khẩu do ông Hoàng Văn Hiển (SN 1944, trú tại xã An Thọ - An Lão - Hải Phòng) làm chứng minh nhân dân giả mang tên Hoàng Văn Linh cho đối tượng Đồng Xuân Phong.


Theo quyển sổ hộ khẩu mà Vũ Văn Sáu đã làm giả thì họ tên của ông Hoàng Văn Hiển (SN 1944) đã bị đổi thành Hoàng Văn Hiến (SN 1946), vợ ông Hiển là bà Phùng Thị Vinh (SN 1947) bị đổi thành Hoàng Thị Loan (không rõ năm sinh), con gái ông là Hoàng Thu Thủy (SN 1971) được đổi là Hoàng Văn Linh (SN 1975).


Như vậy, đối tượng Vũ Tiến Sơn - Phó phòng PC 45 Công an TP Hải Phòng vừa bị cơ quan ANĐT Bộ Công an khởi tố là đối tượng thứ 3 bị lột “mặt lạ” trong vụ án giúp bị can Dương Chí Dũng bỏ trốn khỏi Việt Nam.


Hiện sự việc đang được cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ.


Điều 275. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

1. Người nào tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.
 


(Theo Quốc Đô/Dân Trí)

Vietnamnet
© 2010 Báo VietNamNet. All rights reserved.
® Ghi rõ nguồn "VietNamNet" khi phát hành lại thông tin từ website này.

DN cạn tiền mặt, giám đốc ngồi trên lửa

DN cạn tiền mặt, giám đốc ngồi trên lửa 

 

 

Cập nhật lúc 05/12/2012 01:30:00 AM (GMT+7)
- Một tình trạng chung đang khiến nhiều DN đau đầu vào thời điểm cuối năm là tiền mặt khan hiếm trong khi nhu cầu chi tiêu ngày càng nhiều.

Tiền đi đâu hết?

Trao đổi với VietNamNet, ông Trần Anh, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Hoàng Mai (Thanh Xuân Trung - Hà Nội), cho biết, chưa bao giờ thấy khan hiếm tiền mặt như hiện nay, gần cuối năm nhu cầu chi tiêu nhiều mà tiền thì không có.

“Tài khoản rỗng không, khách hàng thì chưa thanh toán, bản thân DN cũng đang nợ một số nhà cung cấp tiền hàng mà đến nay không có tiền trả, trong khi đó lương nhân viên đang phải chậm, thưởng cuối năm chưa nhìn thấy khoản nào”, ông Anh than thở.


Trong khi đó, một chuyên gia ngân hàng cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại chuẩn bị một lượng tiền mặt rủng rỉnh đủ đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu cuối năm và chuyển về các địa phương, vì vậy không có chuyện khan hiếm tiền mặt. Nếu trong tài khoản của các DN có số dư thì đều có thể rút được tiền mặt ra chi tiêu. Vấn đề ở đây chính là DN cạn nguồn tạo ra tiền.


Nguyên nhân khan hiếm tiền được chuyên gia này lý giải là do tín dụng không mở được dẫn đến vòng quay vốn của nền kinh tế chậm, thu nhập của người dân giảm, của những người hưởng lương Nhà nước không tăng, trong khi chi tiêu từ ngân sách Nhà nước cũng thắt chặt.


Với DN thì số lượng đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, thua lỗ ngày càng tăng, hàng tồn kho lớn, đầu ra không có, không tiếp cận được vốn vay, nợ quá hạn với ngân hàng cao, nợ giữa các DN với nhau cũng nhiều nên không có tiền thanh toán cho đối tác...





Ông Đoàn Trọng Lý, Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Công ty cổ phần chăn nuôi chế biến và xuất nhập khẩu (Nguyễn Công Trứ - Hà Nội) cũng cho rằng, tiền mặt thì không khan hiếm mà vấn đề chính là ở chỗ các DN khó tiếp cận được vốn, nợ xấu cao, không bán được hàng, không tạo ra lợi nhuận.


Phân tích về vấn đề này, ông Lý cho biết: "Hiện chi phí để có 1 kg thịt lợn hơi từ 45.000 đồng tới 55.000 đồng nhưng bán ra chỉ đạt mức 42.000 đồng, trong khi trước kia là trên 60.000 đồng. Thua lỗ đã khiến người chăn nuôi bỏ chuồng và các DN chế biến cũng gặp khó khăn do đầu ra có nhu cầu thấp.

Tôi biết có DN chế biến thực phẩm, có tổng tài sản 130 tỷ đồng, nhưng hiện tại 4 cửa hàng lớn kinh doanh thực phẩm không bán được, phải đóng cửa, cho thuê không được, giờ không biết làm gì".


Khi DN đã phải ngừng hoạt động vì không bán được hàng thì lấy đâu ra tiền mà thanh toán. Không chỉ nợ ngân hàng mà nợ giữa các DN với nhau dẫn đến chẳng ai còn tiền cả.


Nợ nhau vòng quanh


Cho đến nay chỉ số hàng tồn kho có xu hướng giảm nhưng khối lượng tồn kho vẫn cao và những DN có hàng tồn kho cao thì thanh khoản đều rất yếu.


Trong lĩnh vực bất động sản là rõ nhất, ví dụ một DN lớn là Quốc Cường Gia Lai, theo báo cáo tài chính đến tháng 9/2012 chỉ còn 39 tỷ đồng tiền mặt trong tài khoản, trong khi đó, tổng nợ ngắn hạn là 1.931,4 tỷ đồng, hàng tồn kho rất lớn lên tới 3.511,7 tỷ đồng.


Với giá trị hàng tồn kho lớn như vậy, trong khi không thể giải quyết được thì các khoản nợ cũng như các khoản phải thanh toán sẽ chẳng tìm được nguồn đâu ra bởi số tiền mặt còn lại quá nhỏ nhoi, chỉ có 39 tỷ đồng.


Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep) cho biết, theo tính toán của một số DN, với giá cá tra ở mức gần 22.000 đồng một kg như hiện nay, để làm ra một kg cá tra philê cần 2,5kg nguyên liệu, tương đương 55.000 đồng.


Xuất khẩu khó khăn, chi phí tồn kho làm đội giá thành hơn 700 đồng một kg philê mỗi tháng. Trong lúc đó, nhiều DN do tình hình tài chính yếu kém đã buộc phải bán cá với bất kỳ giá nào để tạo ra dòng tiền tự nuôi sống mình. Có DN hiện chỉ chào giá cá tra philê từ 2,2 - 2,4 USD/kg (chưa tới 50.000 đồng).


Bán dưới giá thành như vậy, các nhà máy đang ăn vào vốn. Biết là vậy, nhưng chỉ cần một tuần, một tháng không có dòng tiền quay về để làm nóng tài khoản thì DN cũng sẽ gặp khó khăn.


Ông Trần Anh Vương, Phó chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, cho biết, "tồn kho” công nợ chính là vấn đề nan giải nhất của cộng đồng DN hiện nay.


Theo phân tích của ông Vương, thì các DN nhỏ bị các DN lớn hơn, nhà thầu lớn hơn nợ. Các nhà thầu lớn ấy lại bị chủ đầu tư, bị các nhà thầu lớn hơn nợ, đặc biệt có khoản nợ đến từ địa phương và đến từ các nguồn của Chính phủ... Sự lòng vòng này gây nên khó khăn cho các DN. Đặc biệt, các khoản nợ này ngày một phình to và không có cách giải quyết dứt điểm, dẫn đến DN bị hụt hơi, thanh khoản yếu, mất khả năng thanh toán.


Vấn đề chính là lấy đâu ra tiền? Các nhà kinh tế cho rằng phải có cú hích thực sự để khơi thông đầu ra cho sản xuất. Có như vậy mới giải quyết được hàng tồn kho đẩy mạnh sản xuất, tăng việc làm và đẩy nhanh vòng quay vốn.


Theo tiến sỹ Nguyễn Đại Lai, Chính phủ cần có chính sách kích cầu và coi đây là giải pháp cấp bách cần thực hiện ngay. Thực tế kinh tế đã rơi vào trạng thái trì trệ, kích cầu là phải kích mạnh vào năng lực mua hàng hóa dịch vụ chứ không phải khích vào sản xuất hàng hóa, ông Lai nói.


Giải pháp này dựa trên biểu hiện của lạm phát năm 2012 không khó kiểm soát, không phải do nhập khẩu, cũng không phải do chi phí đẩy hay cầu kéo như một số năm trước đây mà căn bản là do sức mua của xã hội giảm sút, do đó các chính sách kích cầu cần chỉ rõ ví dụ như tăng lương, giảm thuế Giá trị gia tăng, mua hàng tạm trữ, giảm lãi suất cho vay ...



Còn các DN thì phải cơ cấu lại, nâng cao năng lực quản trị, hợp tác với nhau mở thị trường, tìm vốn rẻ từ nhiều nguồn khác, không chỉ dựa vào các ngân hàng và tăng tính thanh khoản của hàng hóa.


Khi hàng hóa được tiêu thụ mạnh, hàng tồn kho giảm, các DN sẽ có tiền, sẽ thanh toán các khoản nợ và đầu tư vào sản xuất kinh doanh qua đó thu hút, tăng thu nhập cho người lao động... và tiền sẽ không còn khan hiếm nữa.


Trần Thủy

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Mình Ơi … Mình À



Mình Ơi … Mình À

Trong dịp dự tiệc nhà người bạn, tôi đã nghe một đôi vợ chồng già gọi nhau cứ một tiếng “mình”, hai tiếng cũng “mình”, nghe rất cảm động , khiến tôi nhớ lại 2 câu thơ của nhà thơ Bùi Giáng:

Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi

Tôi không rành tiếng Anh, không biết House và Home khác nghĩa ra sao, chỉ thấy quảng cáo cho thuê nhà tòan ghi House for rent, chưa thấy Home for rent bao giờ.
Ngôn ngữ khác nhau nhưng đôi khi ý nghĩa lại trùng hợp, nghĩ cũng đúng Cho thuê nhà , chẳng ai chịu cho thuê Nhà tôi , Home mà không có Nhà tôi thì biến thành House mất rồi.
Đi về nhà có lẽ là Let’s go house còn Về nhà thôi thì chắc mới là Let ‘s go home.
Nhà của tôi lâu rồi đã là House……, đôi khi có đôi khi sau khi lai rai chén rượu giang hồ phiêu lảng ước gì lại được nói câu Về nhà thôi- Let’s go home, …ước gì…

Đêm khuya nghe gọi : Mình ơi
Dậy em nhờ tí, Mình ơi , Mình à
Giật mình như thể gặp ma
Mồ hôi nó toát như là tắm mưa
Bài thì mới trả buổi trưa
Giờ mà trả nữa te tua tuổi già
Nằm im mắt nhắm cho qua
Bên tai thỏ thẻ Mình à , Mình ơi
Còn bao năm nữa trên đời
Vui xuân kẻo hết Mình ơi , Mình à
Người ta bảo lúc về già
Dẻo dai hơn trẻ Mình à Mình ơi
Con lớn chúng đã xa rời
Nhà thì vắng lạnh Mình ơi Mình à
Sao không bắt chước người ta
Cờ người quyết đấu Mình à Mình ơi
Bàn son có sẵn đang phơi
Quân ngà mau dậy Mình ơi Mình à
Ráng cho vui cửa vui nhà
Em thương Mình lắm Mình à , Mình ơi


Mình Ơi … Mình À

« Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai »
Nhưng mình có tật nói dai
Nên chi ta cứ cãi hoài không thôi
Ta mình « hai đứa » một đôi
Lâu lâu giận dỗi mỗi nơi một người
Làm lành « hai đứa » lại cười
Xáp vào lại hoá hai người một đôi
Ngọt ngào cất tiếng « Mình ơi ! »
Trên đời đẹp nhất là tôi với mình
Đôi khi có chuyện bất bình
Cãi nhau tôi lại với mình giận nhau
Nhưng mà giận chẳng được lâu
Giận nhau hôm trước hôm sau lại hoà
Nhìn mình tôi bật cười xoà
Nhìn tôi mình lại lăn sà vào tôi
Chúng mình như đũa có đôi
Có đôi để gọi « mình ơi, mình à ! »
Bây giờ như cặp khỉ già
Nhưng mà vẫn cứ « mình à, mình ơi ! »
Khi nào thấy vắng bóng tôi
Thì mình lại gọi : Mình ơi, mình à
Khi nào tôi thấy vắng bà
Thì tôi lại gọi : mình à, mình ơi !
Gọi nhau cho trọn cuộc đời ...

Cách xưng hô vợ chồng của người việt:

Thời nay vợ chồng trẻ xưng hô với nhau "Anh anh em em" âu yếm thân thiết biết bao! Dẫu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Những cặp vợ chồng đã có con cái nếu không gọi nhau bằng “anh” bằng “em” thì cũng gọi nhau bằng “bố’ hoặc “mẹ”, “bố” và mẹ là gọi thay cho con, cũng như khi về già gọi là “ông” hoặc “bà” để gọi thay cho cháu.
Lùi lại bốn mươi năm trước, những gia đình ít nhiều được Âu hoá, vợ chồng gọi nhau bằng "mình" cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng "cậu, mợ" cũng thanh nhã, nhưng những từ đó còn xa lạ với nông thôn.

Một số cặp vợ chồng tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngùngvới hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thỏ thẻ chỉ đủ hai người nghe với nhau. Cách gọi nhau bằng tên "trống không" cũng là một bước cải tiến lớn, chứ các cụ ngày xưa, thời trẻ chỉ gọi nhau bằng "bố thằng cu", "u nó", "mẹ hĩm"... Người mới lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì thì gọi ra làm sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang chơi bên nhà hàng xóm về, chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngõ gọi thật to "Ai ơi! Về nhà ăn cơm". Từ "ai" ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là "chồng tôi ơi".

Còn khi nói chuyện với người khác thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là "nhà tôi". Từ "nhà tôi" thật là đậm đà gắn bó, "mình" và "tôi" tuy hai nhưng một. "Nhà tôi" tức là "chồng tôi" hay "vợ tôi" chứ không thể nói "vợ anh", "chồng nó" là "nhà anh nhà nó".

Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không "Này! Ra tôi bảo!" hoặc "nào ai bảo mình"...

Thế đấy! Ngôn ngữ Việt có nhiều cái hay và “phức tạp” lắm!



Ai hay thơ phú, vô họa đối, đối họa cho vui nè!

Bài xướng: cu cụ cụ cu

Thuở thằng Cu, đến thời gọi Cụ.
Khởi đầu Cờ, trước đứng cạnh “U”.
Thêm nặng cho Cu, ra thành Cụ,
Cu mà nặng nhẹ hóa Cụ Cu

Chớ cậy ngày nay lên mặt Cụ,
Mà quên thưở nọ vốn thằng Cu.
Râu ria rậm rạp : Cu như Cụ,
Da dẻ trơn lông : Cụ giống Cu.

Thế sự đảo điên Cu thành Cụ,
Lộn sòng ”thằng Cụ” lúc “ông Cu”
“Cu, ta quân tử” là Cu Cụ
“Cụ lão hoàn đồng ” ấy Cụ Cu.

Ra chốn đình trung, ưng gọi Cụ,
Giữa vòng hương phấn, vẫn muốn Cu
Giai nhân có hỏi : “Cu hay Cụ ?”
“Lục thập niên tiền” Cụ vốn Cu !

Năm nay tuổi Cụ sáu mươi dư,
Rằng Cụ rằng Cu , Cụ cũng : Ừ !
Cùng bạn nhóc thì : “Ừ , lão Cụ”
Với hàng tiền bối : “Dạ, con Cu

Nhân sinh ảo ảnh, đời như mộng,
Thế sự vô thường, giả khôn ngu !
Nhục vinh, thành bại, mây khói cả,
Có khác gì nhau Cụ với Cu...
Khuyết danh.

Bài đối của tui nè:

-Lúc xuân Gaí, lão lại kêu Gìa
-Trẻ hư nên aí, lão khôn: ìa
-Kênh kiệu, mang danh đồ Gìa Gaí
-Quá lứa, thành ra cái Gaí Gìa

-Chớ quyên ngày trước, mình là Gaí
-Tự mãn giờ đây, được gọi Gìa
-Tơ hồng, một thủa, Gìa như Gaí
-Mắt môi, hìng dáng, Gaí khác Gìa

-Xã hội, rối ren, Gìa hóa Gaí
-Nhẵn mặt, em Gaí, bảo bà Gìa
-Gaí mà khôn bảo là Gìa Gaí
-Gìa sinh lớ ngớ, gọi Gaí Gìa

-Đứng ở đầu đường, thường gọi Gaí
-Ngồi nơi hội quán, phải kính Gìa
-Tếu táo trêu đùa, Gìa như Gaí
-Ba nhăm xuân trước, Gaí chưa Gìa!
!
-Xuân xưa, cô Gaí củng thướt tha
-Khốn nổi giờ đây, đã đến Gìa
-Còn muốn phấn son như con Gaí
-Sắm sanh quần áo, chẳng giống Gìa

Giữa thời lộn xộn, điên ngờ tỉnh
-Tình đời láo nháo, thật như ma
-Xuân qua, ..đông hết, đều thế cả
-Chẳng sướng sung chi, Gaí với Gìa….


Xin đối họa hoặc bình luận nhé!


Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Cà Dái Dê (Cà Tím)

 

Cà Dái Dê (Cà Tím)
Nguyễn-Kim Khánh

Bà bạn đến nhờ coi bệnh cho người quen. Đó là một phụ nữ trang bị “nhiều đồ phụ tùng". Cẳng tay bị che mất 1/3 bởi vòng vàng gây trở ngại cho bắt mạch. Sau khi khám bệnh, tôi nói:

- Xin lỗi. Chị đi cầu phân màu gì, mặt phân có láng không?
 - Không biết.

- Khi đi cầu, cục phân đầu tiên khô cứng như hòn sỏi. Nhưng sau đó phân còn cứng hay mềm?
- Không biết.

- Trời đất, hỏi gì chị cũng không biết. Chị chỉ lo cái vỏ là săn sóc sắc đẹp và đeo nữ trang còn “bộ đồ lòng” thì bỏ phế, nát bấy đủ thứ bệnh. “ăn thua ở cái lòng”, “xấu bụng” thì bên ngoài làm sao tốt đẹp được. Mỗi ngày đi cầu nhớ quan sát phân cho kỹ: màu sắc, khô hay láng, cứng mềm và nhất là  có  mùi thối không. Trước mắt ăn nhiều cà dái dê. Tuần sau trở lại cho biết chi tiết.

Sau khi thiếu phụ ra về, bà bạn cự nự:

- Ông này bất lịch sự. Người ta làm ăn lớn, tiền cuả bạc tỷ mà ông bảo xem phân, ngửi phân có thối không.

- Ngửi phân và xem phân là cách xét nghiệm gan mật chính xác nhất.
- Thế sao không kê toa cho người ta đi “bốc” mà tục tĩu dặn Cà dái dê.
-  Đã chẩn bệnh xong đâu mà đề cập “toa” với “bốc”. Tạm thời cho ăn cà dái dê để mát gan, thông mật. Tôi có nói bậy gì đâu mà chị cự tôi?

-  Nói khéo một chút, thay vì cà dái dê thì bảo cà tím.
-  Thôi đi bà ơi. Bảo cà tím, nhỡ chị ta ăn cà pháo tím là “vỡ nợ”.
                                               *****

Cà dái dê hay cà tím có tên khoa học là Solanum melongena, họ Cà. Quả dài lòng thòng với hình dáng như tinh hoàn dê dực nên có tên Cà dái dê. Gọi tên cà tím là không chính xác vì một vài loại cà khác cũng màu tím.

Hơn nữa Cà dái dê có hai loài:  quả xanh ánh tím và quả tím.



Hãy chọn quả vừa chín tới, nghĩa là không còn cứng nữa. Hãy lưạ quả có da bóng mượt và đồng màu, không có vết trầy. Dùng ngón tay ấn vào rồi buông ra, vỏ quả phồng trở lại là quả còn tươi. Vỏ nhân nhúm là bị héo. 

100g cà tím sinh 23 calori, có thành phần như sau: 92% nước, 5,5% glucid, 1,3% protein, 220mg kali, 15mg photpho, 12mg manhê, 10ng calci, 15mg lưu huỳnh, 0,5mg sắt, 0,2mg mangan, 0,2mg kẽm, rất ít vitamin. Ruột quả nhiều chất nhày. Vỏ quả có violantine, một chất thuộc nhóm anthocyanosid.
Theo Y học dân gian, cà dái dê có tính mát gan, thông mật, nhuận tràng, thông tiểu, điều hoà tiêu hoá.

Thức ăn  thường làm là nướng, xào mỡ, bung, um, xào thịt… Nóng quá làm cà nhão mất ngon. Ruột cà nhầy nhão lại tưởng là có chất dầu, thật ra cà dái dê không có dầu mỡ.

Khi ăn cà dái dê nên ăn cả vỏ vì villantine ở vỏ quả  có tính chống oxy-hoá.

1-Tăng tiết dịch tiêu hoá
Cà dái dê làm tăng tiết mật và dịch tụy, giúp tiêu hoá thức ăn. Cholesterol trong mật nhũ hoá chất béo để có thể hấp thụ qua thành ruột. Trypsin trong dịch tụy thủy phân protein thành albumin và aminoacid. Mật còn làm tăng nhu động ruột.

Cà này trị ăn không tiêu, đầy bụng.

Nếu tiêu hoá tốt thì phân có mùi thối. Khi phân không thối là tiêu hoá có vấn đề, có thể do tạp khuẩn ruột thiếu men sình thối.

2- Trị táo bón
 •   Đông y cho rằng táo bón có nhiều nguyên nhân nhưng thường do âm suy nên rút hết nước vào cơ thể, phân khô cứng.
•   Chất xơ làm phân tăng thể tích và không đóng tảng.

•   Chất nhầy làm phân trơn nhuận.

•   Người âm suy và táo bón thì da không trơn nhuận. Nếu chỉ dùng mỹ phẩm chăm sóc cái vỏ ngoài mà không ngăn chặn táo bón thì da không thể mịn màng tươi mát.

3- Giảm cholesterol, giảm thân trọng

Gan tiết mật, cholesterol là thành phần quan trọng cuả mật. Ruột có
cholesterol cuả mật và trong thực phẩm (thịt, trứng). - Chất béo cần nhờ cholesterol nhũ hoá mới ngấm được vào máu. Chất nhày cuả cà dái dê ngoại hấp cholesterol. Chất này bị khoá hoạt tính nên không hoàn thành chức năng, chất béo không được nhũ hoá nên ở lại ruột.

Cả cholesterol và chất béo lưu lại trong ruột để rồi di chuyển xuống ruột gìa và bài xuất theo phân. Cơ thể không được tiếp tế cholesterol và chất béo, chẳng những thế mật còn kéo theo cholestrol. Kết quả là cholesterol và chất béo trong máu đều giảm. An Cà dái dê chính là cách giảm cholesterol - huyết và triglycerid - huyết an toàn nhất. Một quả cà tím nướng có khả năng hấp thụ 83g chất béo trong 70 giây, cao gấp 4 lần khoai.

Không được tiếp tế thêm, cơ thể tiêu thụ mỡ dự trữ nên thân trọng giảm. Điều cần biết là nên giảm thân trọng từ từ để cơ thể co thới gian thích nghi. Nếu giảm càng nhanh thì sẽ lên cân trở lại mấy hồi. Thân trọng tăng giảm nhanh và nhiều lần sẽ gây xáo trộn sinh lý.

Cà dái dê có khả năng sinh nhiệt thấp kèm với chất xơ và chất nhày nên giảm cân tốt. Nên thêm cà dái dê vào thực đơn cuả người mập phì, cao huyết áp, tiểu đường.

4- Phụ trị bệnh tim mạch

Chất béo không tan trong huyết tương nên phải núp dưới dạng kết hợp với cholesterol và apoprotein gọi là lipoprotein. Lipoprotein lại chia ra nhiều loại nhưng chỉ có 2 loại làm chúng ta lưu tâm là lipoprotein LDL (low density) và HDL (hignh density).



Các tài liệu cuả Đại Học Berkeley, Johns Hopkins, Harvard, Tufts gần đây còn cho biết, thực đơn nhiều chất xơ và kali cũng giảm nguy cơ đột tử và tai biến não (xem bài Chuối, Món ăn - bài thuốc ).

Chất chống oxy-hoá (violantine) trong
cà dái dê cũng tham gia ngăn chặn sự oxy-hoa lipoprotein LDL.

Đa số thuốc giảm cholesterol đều đắt tiền và có độc tính. Với căn bệnh này phải uống thuốc dài hạn nên cần tính chi li chi phí trị liệu. – ăn Cà dái dê là cách dùng thuốc hay nhất:  an toàn, rẻ tiền, dễ kiếm và còn khoái khẩu nữa.

Cà dái dê đạt những tiêu chuẩn biên soạn sách Món ăn - bài thuốc.
Hãy ăn cà dái dê nướng. Nhớ đừng tưới thêm dầu mỡ. Cũng không ăn cà dái dê xào mỡ.
Món cà tím bung với đậu hũ, thịt nạc cũng thích hợp với trường hợp này.
Món cà dái dê lăn bột chiên chỉ ăn ít vì có chất béo và trứng.
5- Thông tiểu và thải urê

Thực đơn nhiều thịt làm tăng urê-huyết. Purine trong thịt và đậu nành tích tụ gây bệnh thống phong với triệu chứng đau khớp; điểm đau di chuyển từ khớp này sang khớp khác chứ không ở một vị trí như bệnh thấp khớp.

Cà dái dê thông tiểu, tăng thải urê và acid uric.
Lipoprotein LDL dư thưà (nhân dân gọi là máu nhiễm mỡ) dễ bị oxy-hoá, tăng kết đọng tiểu cầu (tạo cục máu) và gây xơ động mạch. Động mạch bị giòn cứng và giảm khẩu độ, dẫn tới cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành. Nếu tảng xơ động mạch hoặc cục máu di chuyển tới tim gây gây đột tử (nhân dân gọi là chết không kịp ngáp), nếu lên não sẽ gây tai biến não. Chất nhày cuả cà dái dê làm giảm triglycerid và cholesterol cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Có người nói ăn cà dái dê bị nhức mỏi. Đúng thôi, đó là ăn quả cà còn xanh non nên nhiều solanin ; lượng solanin giảm khi chín. Cà dái dê nướng có mùi thơm hấp dẫn do solanin.

Bức ảnh “Napalm Girl” tròn 40 tuổi

Cuối tháng Năm/2012, nhiều Web site lớn trên thế giới đã đưa tin: “Tấm ảnh chụp “napalm girl” đã được 40 năm”.

Chỉ trong một giây, nhiếp ảnh gia của hãng tin AP (Associated Press) lúc đó là ông Huỳnh Công Út, tức “Nick Ut” – một thanh niên 21 tuổi – quyết định bấm máy, ghi lại hình ảnh những đứa bé kêu khóc bị bom napalm trên một quốc lộ ở miền Nam Việt Nam trước đây. Đó là thị trấn Trảng Bàng, cách Sài Gòn 30 phút lái xe về hướng bắc.

Đó là ngày 8 tháng 6 năm 1972, cô bé tên Phan Thị Kim Phúc nghe các binh sĩ VNCH hét lên: “chạy nhanh đi ra khỏi nơi đây, họ sắp dội bom, chết hết bây giờ!” Chỉ vài giây sau, cô bé thấy “vầng sáng màu vàng và cam” tỏa lên xung quanh một Thánh Thất Cao Đài nơi gia đình cô bé trú ẩn từ 3 ngày qua. Phúc chạy nhào ra Quốc Lộ 1 cùng với các trẻ em khác. Quần áo Phúc bị cháy tan, còn lưng và cánh tay Phúc bị cháy nám đen. Phúc la lên “nóng quá, nóng quá”.

Nick Út đã lấy nước cho Phúc uống rồi vội vã đưa Phúc lên xe chạy đến bệnh viện Củ Chi. Tại đó Út nói “Tôi là một phóng viên, xin làm ơn cứu đứa bé này, tôi không muốn nó chết”. Và mọi người đã giúp đỡ Phúc ngay. Bên cạnh Út lúc đó còn có ký giả Christopher Wain của ITN (Independent Television Network), ông này đã rưới nước trong căng-tin lên người Phúc (không biết việc làm ấy chỉ làm vết bỏng thêm trầm trọng). Về sau, Wain đã giúp Út đưa Phúc từ bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn đến bệnh viện Barsky, nơi duy nhất có đủ phương tiện để điều trị những vết bỏng nặng. Qua 17 lần giải phẫu, Phúc được một nhóm các bác sĩ gồm nhiều quốc tịch khác nhau đã tận lực cứu chứa. Sau 2 năm ròng rã, cô bé Phúc 9 tuổi đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Thoạt đầu tấm ảnh trứ danh không được đăng vì AP có đường lối không đăng ảnh lỏa thể, nhưng Horst Faas, Giám Đốc phân bộ ảnh, khi liếc qua, đã thay đổi ý kiến. Ông nói: “tấm ảnh này có giá trị lớn lắm đó”. Faas đã đúng, “napalm girl” trở thành một trong những tấm hình chụp ấn tượng nhất về chiến tranh Việt Nam. Riêng Nick Út được trao giải Pulitzer 1972.



Thế còn Kim Phúc thì sao?

Sau khi được cứu sống, Phúc trở về lại Trảng Bàng. Khi quân cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam tháng Tư, 1975 thì cái-gọi-là “giải phóng miền Nam” chỉ làm cho cuộc sống của Phúc thêm khốn khổ vì gia đình của Phúc bị liệt vào thành phần tư bản và bị mất tất cả tài sản. Nhưng cha mẹ Phúc vẫn cố gắng nuôi dưỡng đứa con bị thương tật, thường xuyên phải chịu những cơn đau xé người vì các vết bỏng cũ.

Năm 1982 – 10 năm sau tấm ảnh của Nick Út – một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam và muốn tìm “cô bé trong hình”. Thế là cộng sản Việt Nam thấy ra Phúc là một công cụ quý giá. Chúng tìm ra được Kim Phúc đã trở thành một cô sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Khoa (TPHCM). Kể từ lúc đó Phúc không còn được yên ổn nữa . Cô bị buộc phải đóng các bộ phim tuyên truyền. Khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, cô bị kiểm soát hết sức gắt gao. Nhiều lần, Phúc tìm cách trốn chạy nhưng vẫn bị truy lùng và bắt lại. Cuối cùng, cô bị buộc thôi học và bắt phải trở lại Trảng Bàng. Tại đây Phúc bị quản thúc nghiêm ngặt vì là một “biểu tượng quốc gia về chiến tranh” (national symbol of war).

Kim Phúc nói: “Tôi muốn chạy trốn khỏi tấm hình đó. Tôi bị phỏng vì bom napalm, và tôi trở thành một nạn nhân của chiến tranh. Nhưng khi tôi lớn lên, tôi lại trở thành nạn nhân của một thứ khác”. Thế nhưng dù luôn luôn trong tình trạng bị o ép, rình rập trong gọng kềm của nhà cầm quyền cộng sản, Kim Phúc may mắn tìm được một nơi trú ẩn yên ổn cho tâm hồn, đó là lúc cô tình cờ đọc được một cuốn Kinh Thánh. Và rồi từ một tín đồ Cao Đài, Kim Phúc đã trở thành một giáo hữu Tin Lành.

Năm 1986, Kim Phúc tìm được cơ hội đi học tại Cuba. Tại Cuba, Phúc gặp một du học sinh là Bùi Huy Toàn. Năm 1992, hai người kết hôn và đến Moscow để hưởng tuần trăng mật. Trong khi bay từ Moscow trở lại Cuba, Toàn và Phúc quyết định đào tẩu khi máy bay ghé lấy nhiên liệu tại Gander, Newfoundland (Canada). Sau đó, hai người đã được hội đoàn Tin Lành bảo trợ để được tị nạn tại Canada.

Năm 1996, với sự giúp đỡ của Ron Gibbs, một cựu chiến binh Hoa Kỳ và một thành viên Ban Giám đốc Quỹ Đài Tưởng niệm (The Memorial Fund), Kim Phúc thành lập “The Kim International Foundation” với mục đích cứu giúp các trẻ em chiến tranh trên khắp thế giới. Năm 1997, Kim Phúc được UNESCO tặng danh hiệu “Đại sứ Thiện nguyện cho một Văn hóa vì Hòa bình” (Goodwill Ambassador for a Culture of Peace).

Cô bé Kim Phúc trong hình và người phóng viên Nick Út ngày nào đã gặp lại nhau khi Phúc ra được tới Cuba. Út khuyến khích Phúc kể lại câu chuyện cuộc đời mình cho thế giới biết. Ban đầu Phúc từ chối vì đã quá chán ghét những cuộc tra hỏi và quay phim của nhà nước cộng sản Việt Nam, cô chỉ muốn sống một cuộc đời bình thường như bao người khác. Nhưng cuối cùng, Kim Phúc quyết định dành lại quyền thuật lại câu chuyện đời mình. Cuối năm 2000, cuộc đời của Phan Thị Kim Phúc đã được tác giả Denise Chong kể lại trong cuốn sách mang tựa đề “The Girl in the Picture”.

Giờ đây 49 tuổi, Kim Phúc sống hạnh phúc ở Toronto với chồng và 2 con. Cô có thể bình tĩnh nhìn vào bức ảnh và nói: “Rất nhiều người chỉ biết hình tôi nhưng rất ít người biết về cuộc đời tôi. Tôi thật biết ơn vì giờ đây tôi có thể chấp nhận tấm hình ấy như một tặng phẩm đầy sức mạnh. Và rồi chính tôi phải chọn lựa. Và rồi tôi có thể dùng tấm hình ấy để làm việc cho hòa bình.”

Ngũ Phương – tổng hợp

Nguồn:

- Audio “Lời Chứng Của Bà Phan Thị Kim Phúc” , Phan Thị Kim Phúc, tinlanhhyvong.com
- ”Iconic 'napalm girl' photo from the Vietnam War turns 40”, Margie Mason, USA Today,
- ”Vietnam Napalm Girl” famouspictures.org




 Mót Lúa


Bà ngồi mót từng hạt lúa rơi
Bao lâu mới có bát cơm đầy
Nhìn hình con thấy lòng se lại
Cực khổ nầy biết thuở nào vơi

Bà ơi! Mây mù còn che phủ
Để trời Nam vương một màu tang
Đất nước lầm than dân nghiệt ngã
Tình sầu nầy nặng đến thiên thu

Biết đến chừng nào hết khổ đau
Cho bà được thấy ánh nhiệm mầu
Hàn vi cơ cực không còn nữa
No cơm ấm áo đến nghìn sau

Con biết cuộc đời như giấc mơ
Như cơn gío thoảng nước qua cầu
Con xin khấn nguyện trời cao thấu
Cưú được dân lành kiếp bể dâu

Bí quyết trường xuân qua ca dao tục ngữ





Người xưa tuổi thọ kém, ai sống tới bảy mươi đã cho là hiếm hoi, nhân sinh thất thập cổ lai hi. Đã vậy, nhiều người suốt đời chỉ hùng hục làm việc, chạy theo bả lợi danh, bo bo giữ của không biết hưởng đời là gì, tới khi già yếu, sắp xuôi tay nhắm mắt, tính sổ cuộc đời mới thấy là dại:




Một năm là mấy tháng xuân
Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa?
Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi
Bo bo giữ lấy của trời làm chi?
Bẩy mươi chống gậy ra đi
Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi.

Từ đó, người xưa rút kinh nghiệm, để lại cho con cháu biết bao là lời khuyên bảo chí lý, không ngoài mục đích khuyến khích chúng ta hãy biết tận hưởng những hương vị của cuộc sống ngay từ thuở thanh niên son trẻ, cùng cho chúng ta bí quyết để kéo dài tuổi xuân:



Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già
Chẳng lo liệu trước ắt là luỵ sau.

 
Ngày nay, chúng ta đều biết rằng khoa học tiến bộ vượt bực đã giúp cho con người rất nhiều phương tiện để được hưởng một cuộc sống tiện nghi, thoải mái và lý thú hơn xưa. Đồng thời ngành y dược cũng tiến bộ đáng kể, đã giúp cho con người chửa được lắm bệnh hiểm nghèo, tăng thêm phần sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ. Những kết quả nầy tuy đã đem lại nhiều phúc lợi cho nhân loại, nhưng vì thiếu tính chất nhân bản nên chúng vẫn không giúp cho con người đạt được chân hạnh phúc. Đây chính là lý do khiến chúng ta thích đọc lại ca dao, tục ngữ, một loại văn chương bình dân truyền khẩu phong phú của dân tộc, để tìm hiểu xem đâu là quan niệm nhân sinh của người xưa, và qua đó, chúng ta lĩnh hội được những gì về bí quyết trường xuân để đem lại cho mình một đời sống hạnh phúc trọn vẹn, lâu dài?

Sau khi nghiên cứu tục ngữ, ca dao, chúng ta hẳn thấy bí quyết trường xuân của người xưa đã được qui vào những điểm sau đây:

1)- Người xưa trước hết phải biết sống qua triết lý tri túc, tiện túc, nghĩa là biết đủ ấy là đủ. Chính vì biết sống an phận, không đòi hỏi nhiều nên cuộc sống mới được nhàn nhã, tâm hồn được thảnh thơi:

Ông cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn cả mặc lại càng cả lo.

Ông bếp ngồi trong xó tro,

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

Huống chi cuộc đời qúa ngắn ngủi, làm nhiều làm chi cho khổ thân:

Đời người sống mấy gang tay,

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm.

2)- Phải biết quẳng gánh lo đi mà vui sống. Sự lo nghĩ buồn phiền làm cho tâm thần rã rượi, mặt mày héo úa, xấu xí, sức khoẻ sa sút. Ông Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc và bà Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ Ngâm đã phải công nhận điểm nầy:

Chiều ủ dột giấc mai trưa sớm

Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.

(Cung Oán)

Võ vàng đổi khác dung nhan

Khuê ly mới biết tân toan dường này.

(Chinh Phụ)

Bởi vậy ca dao mới khuyên ta chớ nên cả lo như các bà mẹ xưa, mười chuyện lo cả mười, chuyện không đáng cũng lo, như thế thì lo cả đời chưa hết:

Mẹ già lo bẩy, lo ba

Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.

Và phải biết xem nhẹ, xem thường mọi chuyện:

Lo gì mà lo, lo con bò trắng răng

Mua ba đồng thuốc nhuộm răng cho bò.

3)- Đồng thời phải nuôi dưỡng các đức tính Từ Bi, Hỉ, Xả. Có biết cảm thông, xót thương, giúp đỡ và tha thứ cho người, tâm ta mới không vướng bận, ghét ghen, oán thù mà hằng giữ được trong sáng, hoan lạc:


Có câu tích đức tu thân

Hoạn nạn tương cứu, phú bần tương tri (trì)

Đấng trượng phu đừng thù mới đáng

Đấng anh hùng đừng oán mới hay.

4)- Cái tâm trong sáng, hoan lạc nầy lại cần được thể hiện qua nụ cười luôn tươi nở trên môi. Khi cười, không những các bắp thịt mặt được thư dãn, vẻ mặt trông tươi mát. Lòng ta cũng cảm thấy phấn khởi, hạnh phúc. Giá trị của nụ cười đã được người xưa xác nhận qua câu tục ngữ:

Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.

Ngoài ra nụ cười tươi còn gây được ảnh hưởng vui sống cho những người xung quanh:

Ngó lên lỗ miệng em cười

Như búp hoa nở, như mặt trời mới lên.

Mình về mình nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

Trăm quan mua mấy miệng cười

Nghìn quan chẳng tiếc,

Tiếc nụ cười em xinh.

(Đúng ra là: nghìn quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen)

Giá trị nụ cười không chỉ được người Á Đông chúng ta đề cao mà ngay cả ở Aâu Mỹ cũng có nhiều câu danh ngôn được truyền tụng: chaque fois qu’un homme sourit et plus encore quand il rit, il ajoute quelque chose à ce brin de vie (mỗi khi người đàn ông mĩm cười và hay hơn nữa khi hắn cười, hắn đã thêm một chút gì có ý nghĩa cho cuộc đời mong manh này).

Le sourire appporte la chaleur à celui qui recoit, ne coute rien à celui qui donne (Nụ cười mang lại sự ấm áp cho người nhận, mà người cho chẳng mất mát gì cả).

5)- Phải biết giữ vệ sinh cho thân thể. Con người, thân thể có sạch sẽ, mới khoẻ mạnh, nhan sắc các bà, các cô phần lớn do cái răng, cái tóc quyết định:

Cái răng, cái tóc là góc con người

Ai muốn có một hàm răng đều đặn, tươi xinh, sáng ngời như những câu ca dao vừa dẫn chứng ở trên tất phải biết phép giữ vệ sinh và bồi dưỡng cho răng lợi. Bằng chẳng chịu giữ gìn, răng sẽ bị sâu, bị thối, bị sún, bị sứt, bị gẫy, nhan sắc trông chẳng còn đẹp tí nào, mà khi ăn khó nhai, khó cắn, mất cả ngon. Vậy, muốn sạch miệng, tốt răng người xưa dạy phải súc miệng bằng nước muối, phải ăn trầu và nhuộm răng đen. Muốn thơm da, mát thịt thì tắm nước nấu lá hương nhu, lá rau mùi hay cách hoa ngọc lan. Còn muốn tốt tóc sạch gầu thì:

Tốt tóc thì có mần trầu

Sạch ghét, sạch gầu bồ kết với chanh.

Người sạch sẽ là người biết tự trọng và dễ gây được thiện cảm với người xung quanh mình, nhất là người đó lại thuộc phái đẹp:

Nước trong ai chẳng rửa chân,

Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.

6)- Bổn phận làm đẹp. Nam hay nữ đều nên làm đẹp, riêng phái nữ thì làm đẹp còn phải kể là một bổn phận, để tạo hạnh phúc cho gia đình. Trong Chinh Phụ Ngâm, bà Đoàn Thị Điểm cũng đã công nhận như thế:

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp

Xin vì chàng rũ lớp phong sương.

Vì chàng tay chuốt chén vàng

Vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng.

Người ta làm đẹp qua cách điểm trang và cách ăn mặc. Làm đẹp giúp người ta trông trẻ ra, đẹp hơn và có duyên thêm:

Trắng da vì bởi phấn giồi

Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa.

Có trầu cho miếng đỏ môi

Có rượu cho chén thêm tươi má hồng.

Cau già, dao sắc lại non

Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.

Người tốt về lụa

(Lúa tốt về phân)

Chân tốt về hài

Tai tốt về hoãn.

Và cũng vì trang điểm đẹp thêm nên ta cảm thấy tự tin hơn, yêu đời hơn và cuộc đời cũng vì đó mà lên hương thêm, cao giá thêm:

Còn duyên như tượng tô vàng

Hết duyên ngư tổ ong tàn ngày mưa.

Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa một mình.

Còn duyên kén những trai tơ

Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.

7)- Phải biết ăn uống sao cho bổ và ngon. Tục ngữ có câu "dĩ thực vi tiên". Người xưa xem chuyện ăn uống quan trọng hơn cả, vì hiểu rằng:

Ăn vóc học hay.

Hoặc:

Có thực mới vực được đạo

Và:

No nên bụt, đói ra ma.

Hiển nhiên có ăn mới khoẻ mạnh nên hình dạng con người đẹp đẽ, cũng như có học mới thành người giỏi, người tài. Sau nữa, có ăn no đủ người ta mới dễ dàng giữ được nhân cách, đạo đức, sống đời từ bi bác ái. Khi đã xem vấn đề ăn uống là chuyện hàng đầu ở đời, mà chuyện ăn uống lại là chuyện tế nhị, chuyện nghệ thuật, chuyện văn hoá chứ phải thường đâu, nên người ta mới cần đến tài nội trợ, bếp núc đảm đang, khéo léo của các bà các cô.

Tất nhiên không kể đến những người quá nghèo, hay đang gặp cơn bĩ cực, không tiền mua gạo đã phải ăn rau, ăn ráy, ăn khoai độn bụng để sống tạm qua ngày:

Đói ăn rau, đau uống thuốc.

Đói thì ăn ráy, ăn khoai

Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng.

Còn người nội trợ bình thường nào cũng biết "liệu cơm gắp mắm", nghĩa là biết tuỳ theo khả năng mà lo cho chồng con được cơm dẻo canh ngọt. Hai bữa ăn chính của dân ta, cơm là căn bản nên phải lo trước tiên. Theo người xưa:

Cơm ba bát, áo ba manh

Đói chẳng xanh, rét chẳng chết

Như thế, một con người cơm đủ no (mỗi bữa ba bát) sẽ có đủ sức khoẻ để chống chọi với khí hậu khắc nghiệt. Cơm đủ ăn rồi, người ta mới nghĩ đến cách nấu nướng, chế biến thực phẩm thành những món ăn làm sao đem lại sự khoái khẩu và tăng thêm chất lượng dinh dưỡng cho cơ thể.

Nhiều tiền mua thịt

Ít tiền mua xương.

Đúng vậy, người nội trợ không ngoan. Khéo léo dù ít tiền vẫn có thể sửa soạn những món ăn ngon cho gia đình:

Trời mưa cho ướt lá dừa

Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

Cho em hái đọt rau dền,

Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Bồng em đi dạo vườn cà,

Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.

Chồng chê thì mặc chồng chê,

Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

Nói chung ở thôn quê Việt Nam xưa, nhà nào có đủ gạo ăn, lại có được cái ao rau muống với hai món tương cà gia bản thì có thể yên tâm là gia đình sẽ được đủ no và gia đạo sẽ được an vui:

Nhà em có vại cà đầy

Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương.

Dầu không mỹ vị cao lương

Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

Một nhà vui vẻ êm đềm,

Đói no tuỳ cảnh, không thèm luỵ ai.

Còn những gia đình khá giả hơn thì người nội trợ thường hay sửa soạn, nấu nướng những món ăn đắt tiền hơn, cầu kỳ hơn cốt làm tăng thêm khẩu vị cho mọi người. Cũng vì miếng ngon nhớ lâu nên người ta có thể kể lại vanh vách. Này đây là những món ngon dành cho mẹ già:

Tôm rằn lột bỏ đuôi

Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

Ba tiền một khứa cá buôi

Cũng mua cho được để nuôi mẹ già.

Này đây là những món ngon dành cho vợ chồng con cái:

Cơm trắng ăn với chả chim

(Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no).

Thương chồng nấu cháo le le

Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen.

Bậu câu cá bống, ngắt đầu kho tiêu

Kho tiêu, kho mở, kho hành

Kho ba lượng thịt để dành cho em ăn.

Sống thì cua nướng, ốc lùi

Chết cũng nên đời, ăn những miếng ngon.

Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó

Chết xuống âm phủ biết có hay không?

Các bà nội trợ còn lo sắp xếp thực đơn mỗi ngày, mỗi bữa những món ăn khác nhau cho chồng con ăn không chán, lại thấy lạ và ngon miệng:

Sáng ngày bồ dục chấm chanh

Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chầy.

Việc bếp núc cũng lắm công phu, muốn thành công người ta phải nắm được một số bí quyết, như:

Mùa nào thức ấy. Như thế vừa rẻ vừa ngon, vừa tươi và có nhiều chất bổ dưỡng giúp phát triển và bảo trì cơ thể lành mạnh:

Chim, gà, cá, lợn, cành cau

Mùa nào thức ấy, giữ mầu nhà quê.

Biết cách chọn mua thực phẩm sao cho tươi và ngon:

Mua thịt thì chọn miếng mông

(Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi)

Trông mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

Mua bầu xem cuống

Mua rau xem lá

Mua cá xem mang

Mua cua xem càng.

Món ăn nào phải dùng gia vị ấy. Ngoài ra làm ăn phải sạch sẽ, giữ cho đồ ăn

được tinh khiết, trong lành mới là trọn vẹn:

Con gà tục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng.

- Cá không ăn muối cá ươn.

Thịt đầy canh không hành không ngon.

- Cái cò, cái vạc, cái nông

Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

Vặt lông con vạc cho tao

Hành, răm, mắm muối bỏ vào mà thuôn.

Con lươn có tiếng hôi tanh

Xào nấu sạch sẽ cũng thành món ngon.

Rau cải nấu với cá rô

Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

Nên biết những đặc sản của mỗi vùng. Khi đã biết, ra chợ dễ mua bán, và khi đã mua được cây trái, thực phẩm ngon rồi, người nội trợ chắc chắn dễ thành công hơn trong việc cơm nước cho gia đình, hay những bữa tiệc tùng cho họ hàng, bè bạn:

Thí dụ 1, thổ sản miền Trung:

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh

Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ?

Sầu riêng măng cụt Cái Mơn

Bắp thì Chợ Giữa, giồng khoai Mỹ Hoà.

Bến Tre nước ngọt lắm dừa

Ruộng vườn mầu mở, biển thừa cá tôm.

Bánh tráng Mỹ Lồng

Bánh phồng Sơn Đốc.

Thí dụ 2, thổ sản miền Trung:

Ốc gạo Thanh Hãn

Mật rú Bát Phường

Măng cây Huyện Do

Gầm ghì Chợ Huyện

Thơm rượu Hà Trung

Mắm ruốc Cửa Tùng

Mắm nêm Chợ Sải.

Thí dụ 3, thổ sản Miền Bắc:

Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần

Nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét.

Biết chọn các món ăn đi cặp với nhau cho tăng khẩu vị. Cuối cùng người nội trợ tế nhị, từng trãi còn phải biết sắp xếp những món ăn nào đi cặp với nhau khiến ăn vào cho tăng khẩu vị, như:

Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng

(Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một nơi).

Mâm thịt kẽo với mâm xôi

Thịt bùi, xôi dẽo kẽo nơi bà già

Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa

Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.

Nồi cơm kẽo với nồi canh

Quả bí trên nhành kẽo với tôm he

Bánh tráng kẽo với nước chè (trà)...

Cơm nắm ăn với thịt dim

Vừa bùi vừa dẻo lại thêm mặn mà.

Chính nhờ tài nội trợ cơm nước khéo léo và cách sắp xếp món ăn hợp khẩu vị này mà các bà vợ Việt Nam đã bảo vệ được hạnh phúc gia đình. Người chồng đi xa nhà, thấy nhớ món ăn ngon của vợ lại muốn mau mau trở về:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nấu ăn ngon đã trở thành một trong những bí quyết tạo hạnh phúc và giữ hạnh phúc gia đình. Đấy là lý do vì sao không một bà mẹ Việt Nam nào lại không dạy con gái nghệ thuật nấu nướng. Và cô gài nào có tiếng nấu nướng giỏi, có kém nhan sắc một chút vẫn lấy được chồng ngon lành như thường:

Có phúc lấy được vợ già

Vừa sạch cửa nhà, lại ngọt cơm canh.

8)- Ăn chơi phải có chừng mực. Ăn uống vừa bổ, vừa ngon miệng tất đem lại cho con người nhiều sức khoẻ. Có sức khoẻ lại có đạo đức, người ta mới mong sinh được những đứa con tốt lành:

Trứng rồng lại nở ra rồng

Liu điu lại nở ra dòng liu điu.

Có sức khoẻ người ta mới mong hưởng thụ được nhiều lạc thú ở đời. Thôi thì đủ cả:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.

Già thì già tóc, già tai

Già răng, già lợi, đồ chơi không già.

Tuy nhiên chúng ta đều biết cái gì thái quá cũng không nên:

Ăn lắm thì hết miếng ngon

Nói lắm thì hết lời khôn hoá rồ.

Bởi vậy, nếu người ta cứ mặc sức ăn chơi, hưởng thụ theo cái lối buông thả, chơi cố:

Đã sinh tài sắc ở đời

Chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng hoài.

Không tự giới hạn, kiềm chế được mình thì rồi trường xuân đâu chẳng thấy, tật bệnh đã theo nhau kéo đến. Lúc bấy giờ ăn chẳng được, mà ngủ cũng chẳng yên, người ta mới thấm thía được hết ý nghĩa của câu:

Ăn được, ngủ được là tiên

Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.

Thêm lo thì đã quá muộn rồi. Vậy, muốn được sống trường thọ, kéo dài tuổi xuân thì ăn chơi phải có điều độ, phải biết dè chừng, theo tinh thần tự chế:

Tay tiên chuốc chén rượu đào

Đổ đi dẫu tiếc, uống vào tất say.

(Đúng ra là: Đổ đi thì tiếc, uống vào thì say).

Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI. Sách báo và nhiều người xung quanh ta thường nói đến những vấn đề liên quan đến các phát minh tiến bộ vượt bực của khoa học như về các loại máy móc điện tử, về truyền thống vệ tinh, cùng các tiến bộ đáng kể của ngành y dược như đã tìm ra các phương thuốc trị bệnh hiểm nghèo, đã cứu được nhiều sinh mạng bằng phép ghép thận, ghép gan, thay tim, v...v...

Nhờ vậy, con người đã được hưởng một cuộc sống văn minh vật chất tiến bộ đáng kể, và sức khoẻ cũng được bảo vệ tối đa, tuổi th? vì thế đã gia tăng rất nhiều. Người xưa, năm mươi tuổi đã được liệt vào thọ cách, ai sống đến bảy mươi cho là hi hữu. Người nay, tuổi thọ trung bình đã vượt lên từ bảy mươi lên tới tám mươi tuổi. Có nhiều cụ đã sống trên cả trăm tuổi (cụ bà Jeanne Clément là người thọ nhất thế giới, đã ăn mừng sinh nhật lần thứ 126!). Vậy mà chúng ta còn giở lại những câu ca dao, thành ngữ cổ truyền của dân tộc để tìm hiểu, học hỏi thêm về những bí quyết trường sinh của người xưa, không biết như thế có lạc hậu không?

Tôi thiết nghĩ là không. Thực vậy, nếu chúng ta nắm được nghệ thuật sống, nghĩa là biết dung nạp những ưu điểm của hai lối sống kia để bổ khuyết cho nhau, như chúng ta vẫn sống đời văn minh tiến bộ của Aâu Mỹ để được bảo đảm sức khoẻ cùng những tiện nghi vật chất. Nhưng chúng ta sẽ không bắt chước tinh thần Aâu Mỹ chạy đua với kim đồng hồ, đua đòi, đuổi theo những tiện nghi để bị lệ thuộc tiện nghi, khiến lúc nào cũng phải sống vội vã: hùng hục làm việc, hùng hục hưởng thụ, để rồi suốt đời sống trong vòng quẩn quanh này, mà chúng ta nên sáng suốt trở về sống với quan niệm nhân sinh của ông cha ta: sống giản dị, tri túc tiện túc, thanh thản, hoà hợp với thiên nhiên, đồng thời hướng về những thú vui tinh thần thanh cao nhân ái và đạo nghĩa.

Chỉ có quan niệm sống dung hợp như thế chúng ta mới có nhiều cơ may kéo dài tuổi xuân, và tâm hồn lúc nào cũng được thoải, mái, hạnh phúc. Và chỉ có quan niệm sống dung hợp như thế mới thực sự thích hợp với bản chất và tâm tính con người Việt Nam.